TỰ
DO TRONG LAO TÙ
Tôn Vân Anh Nhóm Cầu Vồng, Warsaw
|
|
LTS: Tôn Vân
Anh, sáng lập viên nhóm Cầu Vồng ở Warsaw, Ba Lan,
phỏng vấn GS Đoàn Viết Hoạt nhân dịp GS
đến Warsaw để vận động dân chủ hóa
Việt Nam.
Tôn Vân Anh: Những đau thương mà gia
đ́nh ông phải gánh chịu là biểu tượng
rất đặc trưng cho lịch sử cận
đại Việt Nam. Ḍng họ của ông đă
đứng lên đối chọi với mọi h́nh
thức nô lệ, từ đối đầu thực dân
tới chống chọi cường thù nội bang. Riêng ông
th́ là người sáng lập và tham gia trực tiếp vào phong
trào đấu tranh đ̣i độc lập, đồng
thời là nhà phân tích gia về các hiện tượng chính
trị, xă hội. Theo cách đánh giá của ông th́ có thể
đặt dấu bằng giữa nô tù của ngoại bang
và nô tù nội bang hay không?
Giữa hai h́nh thái độc tài đó có ǵ giống và
khác nhau? Chúng có những ảnh hưởng như thế
nào vào đời sống xă hội? Gs. Đoàn Viết Hoạt: Tôi không
muốn dùng cụm từ “đ̣i độc lập”
đối với trường hợp Việt Nam hiện
nay. Từ này nên dành cho t́nh trạng dân tộc bị đô
hộ bởi ngoại bang. Ngày nay, chúng ta đ̣i tự do
dân chủ và tôn trọng nhân quyền, đối diện
với kẻ thù nội bang là chính quyền độc tài
không tiếp thu tiếng nói của người dân. Nhưng
nếu nói về t́nh trạng nô tù và t́nh trạng
độc tài th́ chúng ta có thể so sánh được, và
tất nhiên có cái khác mà cũng có cái giống giữa
độc tài và nô tù ngoại bang và nội bang. Cái giống
nhau là t́nh trạng thiếu tự do, tuy nhu cầu tự do
này phần nào được thỏa măn trong các nhóm cộng
đồng được h́nh thành một cách tự nhiên. Người dân hiện
được tự do làm ăn sinh sống hơn cách
đây 15 năm khi c̣n chế độ kinh tế chỉ
huy hoàn toàn quốc doanh. Nhưng dưới chế
độ thực dân ngoại bang Pháp người dân
cũng đă có quyền tự do kinh doanh rồi, mà nhà
nước thực dân lúc đó giữ độc quyền
kinh doanh c̣n ít hơn nhà nước cộng sản bây
giờ. C̣n về sự tự do văn hóa tư
tưởng th́ hai bên không khác nhau bao nhiêu. Mọi tư
tưởng chống đối lại, thậm chí chỉ
cần khác biệt với nhà nước thực dân lúc
đó, và nhà nước cộng sản hiện nay,
đều bị cấm tuyệt, và những ai phổ
biến các tư tưởng đó đều bị
cầm tù. Tính chất độc tài giống nhau
đến độ người ta hầu như có
thể sử dụng lại những bài viết
đả kích thực dân Pháp vào đầu thế kỷ 20
của Nguyễn Ái Quốc cho chế độ CS bây
giờ, đầu thế kỷ 21, mà chỉ cần
đổi từ ngữ ‘thực dân’ bằng từ
ngữ ‘cộng sản’. Cũng không có tự do báo chí, không
có tự do hội họp. Mà nếu so sánh kỹ hơn
một chút, chúng ta thấy chế độ thuộc
địa ở Nam kỳ có khi lại c̣n tự do hơn,
v́ có nhiều đảng phái chính trị được
hoạt động, và các chính trị gia (như Phan chu
Trinh, Phan Văn Hùm…), trong một thời gian khá dài,
đựợc đi diễn thuyết tự do
trước công chúng, kể cả viết báo phê phán các
chính sách của Pháp ở Việt nam. Ảnh hưởng của t́nh trạng độc tài và nô tù này như nhau: làm cho Việt Nam kém phát triển. Kể từ hơn một trăm năm nay, cho đến đầu thế kỷ 21 này, Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi t́nh trạng chậm tiến. Theo các chuyên gia quốc tế, Việt Nam phải phát triển với tốc độ hai con số (trên 10%) mỗi năm th́ 15-20 năm (sau nhiều thế hệ) nữa mới hy vọng tiến bằng những nước trong khu vực. Kéo dài t́nh trạng độc tài chính trị và độc đoán tư tưởng như hiện nay th́ 20 năm nữa nước ta vẫn là một nước chậm tiến, theo đuôi các nước khác trong khu vực như hiện nay. TVA: Để có thể có được ḷng bất
khuất như ông, cần có thật nhiều hi vọng.
Từ đâu mà ông khai thác niềm hi vọng đó? Sau bao
nhiêu năm bị chà đạp nhân phẩm, ông có tin
rằng người Việt sẽ c̣n đủ khả
năng để đứng lên tranh đấu cho tự
do và kiến thiết một quốc gia mới cho ḿnh? GS ĐVH: Tôi không phải chỉ hy
vọng. Tôi có 2 niềm tin vững chắc. Một là dân
tộc Việt không tầm thường, và không chịu
bị khuất phục trước bất cứ
cường quyền nào, dù ngoại bang hay nội bang. Dân
tộc chúng ta đă, đang và sẽ thoát ra khỏi t́nh
trạng bị đè nén để vươn dậy xây
dựng một đời sống xứng đáng với
con người và với người Việt. Truyền
thống văn hóa Việt Nam gắn liền với các giá
trị nhân bản sẵn có của con người, với
những giá trị cộng đồng dân tộc. Lịch sử chống ngoại
bang đă chứng minh điều đó. Hay kể cả
cuộc đấu tranh hiện nay của dân ta chống
lại lư tưởng độc tài Mác-Lênin đă mang
nhiều h́nh thái đa dạng, được tham gia
bởi nhiều thành phần dân chúng khác nhau, trong và ngoài
nước, trong và ngoài đảng cộng sản, đang
chứng minh điều đó. Hai là chế độ
cộng sản đi ngược lại qui luật phát
triển tự nhiên và khách quan của xă hội loài
ngưởi và không phù hợp với văn hóa và bản
sắc dân tộc Việt. Do đó đă bị đào
thải khỏi tiến tŕnh phát triển của nhân
loại và đang bị đào thải tại Việt Nam.
Vấn đề chỉ c̣n là thời gian và phương
thức bị đào thải, thay thế và cái giá phải
trả là bao mà thôi. Từ hai niềm tin đó tôi
cho rằng không có chế độ tàn bạo và độc
tài nào có thể triệt hạ được nhân phẩm
của con người, nếu chính mỗi người
không tự triệt hạ nhân phẩm của ḿnh.
Tần thủy Hoàng, Hitler, Staline, Mao Trạch Đông… đă
từng triệt hạ phẩm giá hàng triệu con
người, thậm chí, tiêu diệt hàng trăm triệu
sinh linh. Nhưng cuối cùng rồi loài người vẫn
c̣n đó, dân tộc Nga, dân tộc Hán, dân tộc Do Thái,
với một đời sống đầy nhân phẩm,
vẫn c̣n đó và lại đang mạnh tiến về
phía trước. Con người là Người và làm
Người được chính v́ mỗi con người
luôn là Người ngay khi chưa có đủ điều
kiện, hay bị triệt tiêu mất các điều
kiện, để làm Người. Mà v́ luôn là Người
nên mỗi người cũng như mỗi tập thể
người luôn t́m mọi cách để làm Người.
Không bạo lực, bạo quyền nào có thể ngăn
cản hoặc tiêu diệt được ư chí và giá
trị sống đó, dù có thể làm chậm lại. Dân
tộc Việt chúng ta cũng như thế. TVA: Ông đă ghi nhớ
những h́nh ảnh như thế nào của 20 năm tù
tội? Những h́nh ảnh đó có dễ trở về
với ông hay không? Ông có cho rằng câu nói của Gandhi “Tôi
tự do nhất là khi nằm trong tù” là câu nói thách
đố và gây tranh căi hay là câu nói nhằm miêu tả
một thực tế có thể xảy ra? GS ĐVH: Nếu tôi nhớ không lầm th́
câu nói của Gandhi đại ư là: trong chế độ
độc tài th́ nhà tù là nơi tự do nhất. Trong
thời gian ở tù tôi cảm nhận được chân
lư này, nhất là khi tôi bị cô lập hoàn toàn trong 4 năm
tại trại giam Thanh Cẩm, Thanh Hóa, thậm chí không
một tù nhân nào được phép tiếp xúc với tôi.
Ngoài xă hội là nhà tù lớn, pḥng giam chỉ là một nhà
tù nhỏ. Ngoài nhà tù lớn tôi bị theo dơi, ŕnh rập
suốt ngày đêm, không hề được tự do và
không bao giờ cảm thấy yên tâm. Trong pḥng giam một
ḿnh tôi chỉ có ḿnh tôi đối diện với chính tôi,
không bị ai quấy nhiễu, ŕnh rập, đe dọa. Và chính lúc này tôi nhận
thức được rằng tự do không phải
chỉ là không bị đàn áp, bị đe doạ bởi
người khác, bởi cường lực. Tự do
chân chính là tự chủ. Tự do chân chính là tự do
với chính ḿnh, do chính ḿnh, không do ai và v́ ai. Đó chẳng
phải là thứ tự do tuyệt đối hay sao? Ngoài xă hội tôi không phải
chỉ bị đàn áp, tôi cũng luôn bị động,
sống, hoạt động, đi lại chỉ như là
một phản ứng có điều kiện, mà
điều kiện sống dưới chế độ
cộng sản ở Việt Nam sau năm 1975 lại
hết sức nghèo nàn, hạn chế. Trong pḥng giam, dù
chật hẹp về không gian vật thể, dù
điều kiện sống vật chất bị hạn
chế hơn rất nhiều, nhưng cái “không gian tinh
thần” lại gần như vô hạn, v́ không có ai, không có
ǵ có thể giới hạn cái “không gian tinh thần” này
của tôi. Việc nhận ra, và sử dụng nó là hoàn toàn
tùy tôi, tôi không bị tùy thuộc vào điều ǵ, vào ai
cả. Sự tự do tinh thần gần như là
tuyệt đối, có thể nói là vô giới hạn. Càng
bị cô lập lâu tôi càng nhận ra được cái vô
giới hạn của sự tự do tinh thần này.
Trước đây tôi chưa thật sự nhận ra
được sự hiện hữu vốn luôn sẵn có
của sự tự do tinh thần gần như tuyệt
đối này có thể v́ tôi luôn bị ám ảnh bởi
sự mất tự do vật thể, và luôn muốn tranh
đ̣i lại sự tự do vật thể đó. Nay trong
hoàn cảnh bị giam giữ một ḿnh, sự tranh đ̣i
tự do vật thể này không c̣n nữa nên sự tự
do tinh thần tự nhiên nổi bật lên mạnh mẽ
và rơ rệt. Chính khi người ta
mất tự do vật thể mà tự do tinh thần
trở nên tuyệt đối, không ai, không ǵ có thể
tước đoạt được. Theo tôi đây là
đặc tính, là sức mạnh đặc biệt
của con người so với con vật - sức
mạnh luôn làm thất bại mọi bạo lực và
bạo quyền muốn tiêu diệt nhân phẩm của
một cá nhân hay một dân tộc. TVA: Dư luận đă được biết,
rằng thân nhân ông đă phải bằng mọi cách
thuyết phục để Đoàn Viết Hoạt ra
khỏi tù cùng với điều kiện phải rời
bỏ tổ quốc. Vậy nên ông mới đúng là
đối tượng cho câu hỏi: ông đánh giá như
thế nào về hiện tượng những người
có tư duy dân chủ ở trong nước t́nh nguyện
bỏ nước ra đi? Điều này có lợi, hay là
bất lợi cho một Việt Nam của tương lai?
GS
ĐVH: Như tôi đă tŕnh bầy nhiều
lần từ khi ra hải ngoại, cộng đồng
hải ngoại phải được nh́n nhận không
phải chỉ như là một cộng đồng tị
nạn cộng sản, dù cộng đồng này h́nh thành
chính thức từ biến cố 30 tháng 4 năm 1975
với làn sóng di tản và vượt biên t́m tự do
chưa tùng có trong lịch sử dân tộc. Có một tính
chất khác của cộng đồng người
Việt trên toàn thế giới mà chúng ta cũng cần
phải lưu ư, nhất là vào những năm đầu
tiên của thiên niên kỷ mới. Đó là tính chất
“quốc tế” của cộng đồng này. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của dân tộc chúng ta có được một cộng đồng Việt quốc tế -hơn ba triệu người Việt sống trên cả 5 châu --Mỹ, Âu, Á, Phi và Úc châu, và tại những quốc gia tiến bộ nhất trên hành tinh. Hơn ba triệu người này, tuy là nhỏ so với nhân số toàn thế giới, và ngay cả với nhiều cộng đồng sắc tộc khác, nhưng lại khá đồng nhất về tính chất và tương đồng về sinh hoạt. Cộng đồng này, dù nhiều khác biệt, h́nh thành từ một nguyên nhân và với một động cơ giống nhau –tị nạn cộng sản, dù với lư do chính trị trực tiếp (cộng đồng xuất phát từ miền Nam) hay với lư do kinh tế (như cộng đồng ở Đông Âu, mà theo tôi, cũng mang tính chất chính trị một cách gián tiếp). Không ai bảo ai mà ở đâu cũng có các sinh hoạt cộng đồng, sinh hoạt tôn giáo, các hội đoàn ái hữu, chuyên nghiệp, bất vụ lợi; cũng có những cuộc vận động v́ nhân quyền, tự do, dân chủ cho Việt Nam. Chưa kể đến những sinh hoạt hết sức phong phú, đa dạng và cũng hoàn toàn tự nguyện trong lănh vực văn học, nghệ thuật, âm nhạc, báo chí, truyền thanh, truyền h́nh. Những tổ chức và sinh hoạt mang tính dân sự thuần túy và hoàn toàn tự nguyện này không những gắn bó người Việt khắp thế giới lại với nhau, mà c̣n giúp phát huy một cộng đồng Việt tộc (với những nét văn hóa Việt tính đặc thù) trong một cộng đồng nhân loại đa văn hóa, đa chủng tộc đang h́nh thành. Toàn nhân loại đang
bước vào thời đại toàn cầu, với
sự ra đời của một cộng đồng nhân
loại trong đó tất cả các dân tộc đều có
quyền và cơ hội để chung hưởng văn
minh tiến bộ đồng thời chia sẻ trách
nhiệm giải quyết những vấn đề toàn
cầu. Trong bối cảnh đó, một cộng
đồng Việt tộc quốc tế cũng đang ra
đời. Cộng đồng này đang và sẽ
trở thành một cửa ngơ ra thế giới trong
thời kỳ phát triển quốc tế của dân
tộc Việt. Nhưng để đóng đúng được
vai tṛ quốc tế này, cộng đồng Việt trên
toàn thế giới, và tại mỗi quốc gia
định cư, cần nhanh chóng trưởng thành lên,
nhận ra và khắc phục được những
khuyết điểm, phát huy được tính đặc
thù trong nếp sống vật thể và tinh thần
Việt, để vừa mở đường tiến
hóa cho dân tộc hội nhập thế giới, vừa
trở thành một bộ phận tích cực của
cộng đồng bản xứ và quốc tế, góp
phần làm phong phú thêm nếp sống và văn hóa nhân
loại. Đây là một thách thức
to lớn cho tiền đồ dân tộc trong thời
đại mới. Nó không chỉ đ̣i hỏi cảm tính
yêu nước, yêu dân tộc, mà rất nhiều tỉnh
táo, sáng suốt và phân tích khoa học. Đây là trách nhiệm
chính của các thế hệ Việt hải ngoại thứ
2 trở đi, thế hệ Việt quốc tế. Và
của những tầng lớp lănh đạo Việt Nam
thời kỳ hậu cộng sản. TVA: Trong quá tŕnh vận động để ông
được thả th́ từ Ba Lan cuộc vận
động đó đă thật sự mạnh mẽ,
nhất là PEN Club của Ba Lan. Kinh nghiệm của
những nhà hoạt động dân chủ Việt Nam
tại Ba Lan cũng là những chứng minh tốt
đẹp về nền dân chủ Ba Lan. Trí thức Ba Lan và
những người từng đấu tranh cho tự do
của Ba Lan coi công cuộc đấu tranh của chúng ta là
công cuộc đấu tranh của chính họ và coi đó là
nghĩa vụ rất hiển nhiên của ḿnh, người
Việt Nam th́ không cảm thấy bị lạc lơng
giữa ḷng cuộc sống Ba Lan. Từ đâu Việt Nam
và Ba Lan có được sự gần gũi như
vậy, gần gũi hơn so với Việt Nam và các
nước tây âu khác? GS ĐVH: Theo tôi sự gần gũi giữa
Việt Nam và Ba Lan là điều dễ hiểu.
Trước hết v́ Ba Lan trước đây cũng là
một nước cộng sản nên người Ba Lan chia
sẻ dễ dàng với những khổ nạn mà
người dân Việt Nam đang phải chịu ở
trong nước, cũng như ngay ở Ba Lan hiện nay,
dưới sự chi phối của Toà Đại sứ
cộng sản. Từ đó, họ cũng hiểu và có
thiện cảm với cuộc đấu tranh cho tự do
của chúng ta dễ dàng hơn người dân ở những
nước Tây Âu. Tuy nhiên, tôi cho rằng những
người dân chủ và cộng đồng người
Việt ở Ba Lan cũng như ở Tây Âu chưa khai
dụng đúng mức được môi trường
thuận lợi này, một môi trường đầy
những đồng cảm. TVA: Cộng sản đă sụp đổ tại
hầu hết các quốc gia trên thế giới, thất
bại ngay tại nơi sản sinh ra nó là nước Nga.
Không ai c̣n mông lung là tại Cu-ba cộng sản cũng
sẽ kết liễu đời ḿnh cùng một lúc với
Fidel Castro. Tại sao cộng sản c̣n bám dai đến
thế ở Á châu? GS ĐVH: Đây là một đề tài cần nhiều phân tích cặn kẽ. V́ giới hạn của một bài phỏng vấn, tôi chỉ nêu ra một vài gợi ư. Trước hết, những nước c̣n chế độ cộng sản, ngoại trừ Cuba, đều ở Á Châu. Điều này tự nó đă cho ta một giải thích. Trung quốc và Việt Nam chưa hề trải qua giai đoạn phát triển dưới chế độ dân chủ, trừ Đài Loan và miền Nam Việt Nam. Trung Hoa lục địa được hưởng chế độ dân chủ trong một thời gian quá ngắn (CM Tân Hợi 1911), c̣n Việt Nam Cộng Ḥa th́ phải đối phó với cuộc chiến tàn khốc trước khi hoàn toàn sụp đổ. Do đó, VN và TQ chưa từng trải qua dân chủ thực sự, c̣n mang nặng năo trạng (mentalité) phong kiến, tất nhiên tiến tŕnh giải thể cộng sản phải chậm hơn ở Đông Âu. Theo tôi, Việt Nam (cũng như Trung quốc) phải trải qua 2 giai đoạn là tư nhân hóa kinh tế (giải thể chế độ kinh tế quốc doanh và chỉ huy), và dân sự hóa xă hội (người dân độc lập với nhà nước trong các hoạt động xă hội (tôn giáo, văn hóa, giáo dục, truyền thông…) mới tạo được điều kiện văn hóa-xă hội cần thiết và thuận lợi cho việc dân chủ hóa thể chế chính trị. Đẩy nhanh hai giai đoạn này là đẩy nhanh tiến tŕnh dân chủ hóa Việt Nam. Do đó, từ nhiều năm nay, tôi đă đề ra Lộ Tŕnh Dân Chủ Hóa Toàn Diện cho Việt Nam, trong đó việc dân chủ hóa chính quyền phải đi sau 2 việc tư nhân hóa kinh tế và dân sự hóa xă hội (tức là tự do hóa các sinh hoạt xă hội của người dân, như văn hóa, giáo dục, truyền thông...). Tới nay, 2005, Việt Nam đă trải qua giai đoạn 1, đă vào giai đoạn 2 và đang bắt đầu vào giai đoạn 3, là giai đoạn thay đổi chính trị, giai đoạn cuối cùng trong tiến tŕnh chuyển hóa Việt Nam từ độc tài chậm tiến sang dân chủ tiến bộ. . Việt Nam đang có các điều kiện thuận lợi để dân chủ hóa. Theo tôi hiện nay chúng ta cần tập trung vào việc đẩy nhanh tiến tŕnh tự do hóa xă hội để giúp tạo sức mạnh độc lập cho người dân, đồng thời hỗ trợ cho việc công khai hóa, độc lập hóa (tư nhân hóa) các hoạt động và tổ chức xă hội, nhất là truyền thông. Thành quả của sự “lớn dậy của người dân” qua từng giai đoạn như vậy chắc chắn sẽ nhanh chóng đưa đất nước thoát khỏi thể chế độc tài đảng trị hiện nay, dân chủ hóa đất nước trên nền tảng ḥa b́nh, ổn định chân chính chứ không giả tạo như hiện nay. T́nh h́nh thế giới, khu vực và trong nước ngày càng thuận lợi cho việc đẩy nhanh tiến tŕnh này. Vấn đề là thành phần dân chủ chúng ta, hải ngoại và trong nước, có khai dụng triệt để và hữu hiệu được thuận lợi này hay không. TVA: Ông viết, giảng
dạy, tiếp xúc và nói chuyện rất nhiều kể
từ khi ông ra đi khỏi Việt Nam. Ông được
coi là một trong những người đă có công nhiều
nhất để phục vụ cho nền tự do
tương lai của Việt Nam. Nếu được
quay trở lại thời gian, ông muốn thay đổi
điều ǵ trong đời ḿnh? Nếu hôm nay là năm
1975 và ông đồng thời có được hành trang
của ông như ngày hôm nay, ông sẽ vẫn ra khỏi
Việt Nam? GS ĐVH:
Trước hết cần nhắc lại là tôi không bao
giờ muốn ra khỏi Việt Nam. Tôi bị bắt
buộc phải rời Việt Nam như là một
điều kiện để được tự do.
Nếu được quyền chọn lựa tôi luôn
muốn sống ở Việt Nam để vận
động cho dân chủ ngay tại Việt Nam. Do đó, dù
là 1975 hay ngay bây giờ lúc nào tôi cũng muốn sống và
làm việc ở Việt Nam. Một trong những
điều chúng ta cần tập trung đ̣i hỏi là
quyền của mọi người Việt
được tự do di chuyển và sinh sống ở
Việt Nam hay ở bất cứ nơi nào trên thế
giới. Quyền này đă được quốc tế
bảo đảm và người dân Việt Nam vẫn
chưa được hưởng. Riêng ở Ba Lan,
cộng đồng người Việt hăy đ̣i chinh
phủ Ba Lan cho họ được sinh sống hợp
pháp tại Ba Lan. Tôi tin rằng nhà nước Ba Lan sẽ
bị trí thức Ba Lan và những nhà tranh đấu dân
chủ Ba Lan trước kia thuyết phục, rằng
đó là giải pháp thỏa đáng, vừa nhân đạo,
vừa nhân bản. TVA: Ông có cho rằng Việt Nam sẽ có
cơ hội lật đổ độc tài theo con
đường của Ba Lan hay không? Liệu việc nghiên
cứu đường đi nước bước
của Ba Lan và các quốc gia Châu âu có hữu ích cho Việt
Nam hay không? GS ĐVH: Chắc chắn là rất hữu
ích. Tiến tŕnh dân chủ hóa và tự do hóa tại mỗi
quốc gia mỗi khác nhau nhưng chắc chắn tiến
tŕnh này ở Ba lan và Âu Châu cho chúng ta nhiều kinh nghiệm,
giúp chúng ta rút ngắn được tiến tŕnh dân
chủ hoá Việt Nam, và tránh được những
hậu quả do tiến tŕnh này gây ra sau khi đất
nước có dân chủ. Như trường hợp đă
và đang xẩy ra ở Nga, và một số nước
cựu cộng sản Đông Âu. Tuy nhiên, tôi cũng
muốn lưu ư là chúng ta nên theo dơi những cuộc nghiên
cứu của giới học giả thế giới
về tiến tŕnh “chuyển hóa” đă và đang xẩy ra
tại những nước độc tài thời kỳ
“hậu Liên Xô”, trong đó có Trung quốc. Tiến tŕnh
“chuyển hóa” này rất khác với sự thay đổi
sang dân chủ ở Đông Âu và Nga. T́m hiểu tiến tŕnh
chuyển hóa này sẽ giúp chúng ta định hướng,
t́m được sách lược và phương thức
vận động dân chủ hóa Việt Nam một cách
hiệu quả hơn và nhanh hơn. (06.12.2005) |